Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Từ bi và độ lượng không phải là dấu hiệu của yếu đuối mà nó là biểu hiện của sức mạnh nội tâm.            Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười.

Mục đích ngồi thiền là phải đạt được các tầng thiền?

20/05/2017 18:24
Hỏi: Mục đích ngồi thiền là phải đạt được các tầng thiền từ sơ thiền đến tứ thiền. Vậy sai chỗ nào? Có mục đích rõ ràng mới thiền được.

Trả lời:  Tại sao chỉ hướng hành giả đến mục đích đạt được các tầng định, trong khi có thể hướng họ đến tuệ tri Bốn Sự Thật? Thí dụ Ngài Xá Lợi Phất hướng dẫn tâm một người sắp lâm chung khiến sau khi chết người ấy sinh lên cõi Trời, nhưng bị Đức Phật quở trách, lẽ ra không nên hướng tâm người ấy đến cõi Trời mà có thể hướng tâm ông ta đến đạo quả Tu-đà-hoàn. Mục đích các tầng định chỉ là hiện tại lạc trú và thần thông chứ không hướng đến giác ngộ giải thoát, nên vẫn còn là những kiết sử sắc ái, vô sắc ái. Phật tuỳ căn cơ người tâm vọng động mà khuyên họ thiền định như pháp đối trị thôi. Với người khác như Bàhiya, Vakkàli Phật không dạy thiền định, mà dạy thấy biết như thực hoặc chỉ cho thấy ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã… thì liền giác ngộ giải thoát.

Vì tâm loạn nên mới thích định, nhưng cố trấn áp khối tham sân si quá nặng nên kết quả của sự dồn nén chỉ là… tẩu hỏa nhập ma. Còn nếu đạt được định thì cũng chỉ là lấy đá đè cỏ nhưng lại dễ bành trướng đại ngã, chứ không thể giác ngộ giải thoát được.

Tất cả phương pháp thiền định là do các vị thiền sư sau này tự đặt ra dựa theo Chú Giải. Thí dụ cách đếm hơi thở không có trong chánh kinh mà do người sau mô phỏng theo cách tu thiền định của Bà la môn để chế định ra. Nếu biết cách thì định phát huy trong khi đi đứng ngồi nằm và tất cả mọi hoạt động đều được cả, nghĩa là chỉ cần thận trọng (giới), chú tâm (định), quan sát (tuệ) một cách tự nhiên trong mọi lúc mọi nơi thì định ngày càng kiên cố. Nên nếu hành như vậy một thời gian thì tự động ngồi đâu định cũng tự đến một cách dễ dàng.

Cách dạy của đức Phật ngược với cách dạy của thế gian là Ngài dạy từ cao xuống thấp dần, chứ không từ thấp lên cao. Tức Ngài dạy những nguyên lý thực tánh rốt ráo như Tứ Diệu Đế, Vô Ngã… trước rồi mới nói dần các pháp môn tuỳ theo trình độ thấp dần. Ví dụ lúc đầu dạy trình độ tiến sĩ trước, ai không hiểu thì nói xuống phó tiến sĩ, không hiểu nữa thì nói xuống cao học, rồi xuống cử nhân, xuống lớp 12 v.v… như vậy mới không mất thời gian của vị căn cơ đã chín mùi.

Trong Bát chánh đạo, 8 yếu tố đi chung với nhau, không tách thiền định riêng để tu như đạo Bà-la-môn. Các yếu tố giới định tuệ luôn hợp nhất trong Bát Chánh Đạo, nên khi đã thấy rõ các yếu tố then chốt này thì có thể tuỳ lúc cần thiết mà gia giảm từng yếu tố cho phủ hợp với hoàn cảnh, đó chính là biết điều chỉnh nhận thức và hành vi. Vì về sau các tông phái tách rời các yếu tố trong Bát Chánh Đạo ra để tu riêng nên mới gọi là thời Mạt Pháp. Mạt là tách ra từng nhánh ngọn riêng, từng chi Pháp riêng mà hành, như niệm Phật thì niệm Phật không thôi, thiền định thì thiền định không thôi…với mục đích sở đắc lý tưởng của mình mà trở thành hữu vi hữu ngã.

Chánh định là trạng thái vô vi vô ngã do thân tâm hoàn toàn thư giãn, buông xả, cảm nhận toàn thân đang thở, đang đi hoặc đang ngồi… (tuỳ chỗ, tuỳ lúc, tuỳ hiện trạng) một cách tự nhiên, nên tâm không còn tán loạn, tự trở về với tự tánh rỗng lặng, trong sáng tự nhiên của nó. Lúc đó, thoát khỏi mọi ý đồ sở đắc nên tâm tự định, tánh biết tự biết, không có bản ngã tạo tác nào trong đó, vì vậy chánh định được gọi là vô vi vô ngã. Ngược lại, không phải có mục đích xấu mới gọi là tà định, mà định tác thành bởi ý đồ của bản ngã, dù có mục đích thiện vẫn là phàm định, còn vô minh ái dục, chưa phải là chánh định. Trong 4 giai đoạn tiến hóa, giai đoạn phát huy bản ngã thiền định được xem là phương tiện tối ưu để tiểu ngã trở thành đại ngã. Trong đạo Phật thì thiền định hữu vi hữu ngã vẫn còn trong Tam giới nên chưa được gọi là chánh định.

Về sau do một số nhà chú giải trước kia tinh thông giáo điển Bà-la-môn đã vô tình (hay hữu ý ?) đưa tư tưởng và phương pháp hành trì của Bà-la-môn (nhất là thiền định) vào giáo pháp đức Phật, mà nhiều người do không đủ trình độ thâm nhập trực tiếp lời dạy của đức Phật nên quá tin vào các chú giải ấy đã hiểu Phật pháp theo Bà-la-môn mà hoàn toàn không hay biết. Bahiya nghe Phật dạy không cần qua bất kỳ một chú giải nào vẫn giác ngộ lập tức.

Cuốn kinh cực kỳ quan trọng mà mỗi người cần phải đọc thật kỹ càng đó là chính mình. Chính mình là cuốn kinh vi diệu nhất không có kinh nào có thể vi diệu hơn. Bất kỳ kinh điển nào không nói được sự thật nơi chính mình thì đều không đúng. Toàn bộ những lời Phật dạy đều chỉ thẳng vào sự thật nơi mỗi người. Hãy đọc cuốn sách của chính mình! Ai thấy sự thật ngay nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, nơi tất cả cảm giác cảm xúc, nơi những phản ứng, những thái độ, những trạng thái nội tâm, nơi sự tương giao và mối quan hệ với vạn pháp xung quanh…người ấy dễ thông suốt toàn bộ lời dạy của Phật mà không bị giới hạn bởi ngôn ngữ được thuật lại trong kinh điển.

Như trên tấm bản đồ, người ta chỉ phác hoạ con đường đi thôi, còn thực tế con đường phong phú hơn nhiều, khác xa với hình vẽ. Nên khi đi trên con đường đó có thể thấy biết bao cây cối xung quanh, cây nào đang nở hoa, hoa nào màu đỏ, hoa nào màu xanh, con đường lát đá gì, rộng bao nhiêu, hai bên đường có bao nhiêu nhà... Vô số những điều mà bản đồ không thể nói hết được. Cũng vậy người nào biết đọc cuốn kinh vi diệu nơi chính mình để khám phá ra ở đó sự thật vô cùng phong phú, người đó mới có khả năng xiển dương Phật Pháp nhiệm mầu, vì Phật Pháp không phải là ngôn từ được tường thuật lại trong kinh điển mà người sau đêm ra chú giải thêm thắt.

 

HT. Viên Minh

Ghi chép: Viên Hướng

Theo Cội Nguồn Hạnh Phúc

Ý kiến bạn đọc

0 bình luận

Ý kiến của bạn:

  • + = ?

Các tin tức khác